MSN Quý 3/2026: lợi nhuận gấp ba lần nhờ tungsten và chi phí tài chính, vì sao cổ phiếu chưa bứt phá?
Quý III/2026, Masan (MSN) ghi nhận doanh thu thuần 36.981 tỷ đồng (+74,7% so với cùng kỳ) và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ 3.671 tỷ đồng (+203,7%, gấp khoảng ba lần). Tungsten của Masan High-tech giải thích đà tăng so với cùng kỳ, còn khoản lỗ tài chính ròng thu hẹp mạnh hơn dự kiến là yếu tố chính khiến lợi nhuận vượt dự phóng. Tuy nhiên, giá cổ phiếu chưa phản ứng tương xứng: phần vượt kỳ vọng dựa nhiều vào giá hàng hóa ở vùng đỉnh và các khoản tài chính, biên lợi nhuận của MML và MSR thấp hơn kỳ vọng, còn nợ vay lớn và nghĩa vụ CrownX vẫn chưa được gỡ. Dù định giá được đánh giá là rẻ (P/E trượt 11,3x so với thị trường 13–14x), cổ phiếu có thể cần thêm chất xúc tác rõ ràng mới được định giá lại.
1. Tổng quan kết quả quý
Ngày 22/10/2026, Masan công bố kết quả kinh doanh quý III. Doanh thu thuần tăng 31,5% so với quý trước và 74,7% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ tăng 17,5% so với quý trước và 203,7% so với cùng kỳ.
Điểm đáng chú ý là chất lượng của mức vượt kỳ vọng. Ở phần doanh thu, mọi mảng lớn đều bằng hoặc cao hơn dự phóng. Ở phần lợi nhuận, yếu tố quyết định lại nằm ngoài hoạt động kinh doanh cốt lõi: khoản lỗ tài chính ròng thu hẹp mạnh hơn dự kiến. Nói cách khác, tungsten giải thích đà tăng so với cùng kỳ, còn chi phí tài chính giải thích phần vượt kỳ vọng. Các phần sau lần lượt xem xét doanh thu, biên lợi nhuận, chi phí tài chính và định giá, đồng thời lý giải vì sao giá cổ phiếu chưa phản ứng tương xứng.
Cần chính xác hóa mức tăng: LNST công ty mẹ tăng 203,7% so với cùng kỳ, tức khoảng gấp ba lần. Một số bài báo nêu lãi sau thuế hợp nhất gần 4.552 tỷ đồng (gấp 2,4 lần); con số này gồm cả phần của cổ đông thiểu số nên khác với 3.671 tỷ đồng của cổ đông công ty mẹ mà VDSC sử dụng.

Hình 1. Mức vượt so với kỳ vọng chuyên viên (%). MML phù hợp kỳ vọng (0%). Nguồn: VDSC.
2. Doanh thu: ba mảng đóng góp chính
Masan High-tech (MSR) và WinCommerce (WCM) tạo ra phần lớn doanh thu quý, tiếp theo là Masan Consumer (MCH). MSR tăng 613,2% so với cùng kỳ nhờ tungsten, còn WCM tăng 21,2% nhờ mở rộng cửa hàng.

Hình 2. Doanh thu quý III/2026 theo công ty thành viên (tỷ đồng).
Masan High-tech (MSR): 14.557 tỷ đồng, +613,2% svck
Doanh thu tungsten đạt 13.922 tỷ đồng, tăng 1.017,7%. Có hai yếu tố: giá bán bình quân đạt 3.129 USD/mtu so với 390 USD/mtu cùng kỳ (vượt 22% dự phóng do lượng bán dồn về cuối quý khi giá còn ở vùng đỉnh), và sản lượng 1.786 tấn, tăng 54,8% (vượt 10% kỳ vọng) nhờ thu mua tinh quặng bên ngoài tăng 78,0%. Tuy nhiên đây là yếu tố chu kỳ: giá tungsten gấp hơn 8 lần cùng kỳ và lượng bán dồn về cuối quý khi giá ở vùng đỉnh. Nhà đầu tư thường chiết khấu mạnh lợi nhuận phụ thuộc giá hàng hóa vì khó giả định giá luôn giữ mức này, và tin tốt về tungsten có thể đã được thị trường phản ánh từ các quý trước.
WinCommerce (WCM): 12.775 tỷ đồng, +21,2% svck
WCM mở mới 345 cửa hàng trong quý, 80% là minimart nông thôn. Doanh thu bình quân mỗi cửa hàng giảm 5,2% còn 0,78 tỷ đồng/tháng vì bị pha loãng bởi cửa hàng mới. Tăng trưởng cửa hàng cũ (LFL) chậm lại: +5,0% ở minimart và +12,6% ở siêu thị lớn, do mưa bão miền Trung – Nam và một phần doanh thu chuyển sang cửa hàng mở mới lân cận. Tốc độ mở mới thấp hơn đối thủ (345 so với 713 cửa hàng), nhưng độ phủ của WCM đã lớn hơn (5.486 so với 3.904 cửa hàng cuối tháng 9). Doanh thu mỗi cửa hàng giảm và LFL chậm lại là tín hiệu khiến thị trường dè dặt về chất lượng tăng trưởng của mảng bán lẻ.
Masan Consumer (MCH): 8.743 tỷ đồng, +16,3% svck
Tăng trưởng so với nền thấp của giai đoạn tái cấu trúc kênh truyền thống. Gia vị phục hồi mạnh (+18,8% thay vì +3,8% như dự báo). Việc tăng giá bán 4–5% đầu quý II khiến nhà phân phối nhập hàng trước ở tháng 3–4; sang quý III, họ quay lại nhịp nhập bình thường với mặt bằng giá mới, hỗ trợ cả sản lượng lẫn giá bán.

Hình 3. Doanh thu MCH theo ngành hàng (tỷ đồng) và tăng trưởng svck.
Masan MEATLife (MML) và Phuc Long Heritage (PLH)
MML đạt 2.646 tỷ đồng (+11,0% svck), thịt chế biến tăng 34,0% và chiếm 41,0% doanh thu, cho thấy sự chuyển dịch sang mô hình có biên lợi nhuận cao hơn. PLH đạt 589 tỷ đồng (+14,1% svck) nhờ mở mới 19 cửa hàng, doanh thu bình quân 0,83 tỷ đồng/cửa hàng/tháng.
Doanh thu vượt kỳ vọng, nhưng câu hỏi quan trọng hơn là doanh thu ấy chuyển hóa thành lợi nhuận ra sao, như phần tiếp theo cho thấy.
3. Lợi nhuận: biên của từng mảng phân hóa

Hình 4. Biên LNTT và lãi vay quý III/2026 (%)
Công ty | Biên độ | svqt | svck | So kỳ vọng |
MCH | 23,3% | +1,46% | -0,65% | Phù hợp |
WCM | 3,0% | +1,28% | +0,56% | Cao hơn |
MML | 3,9% | -4,94% | -1,36% | Thấp hơn |
MSR | 18,3% | -6,75% | +4,79% | Thấp hơn |
MCH giảm so với cùng kỳ vì chi phí đầu vào của đồ uống và thực phẩm tiện lợi tăng (biên gộp giảm 0,23%) và chi phí vận tải lên 4,0% doanh thu từ 3,3%. MML đẩy mạnh quảng cáo và hỗ trợ bán hàng (chi phí bán hàng 20,3% doanh thu) để phát triển thương hiệu thịt chế biến. MSR có biên thấp hơn quý trước vì tối ưu công suất nhà máy bằng tinh quặng mua ngoài, loại nguyên liệu có biên thấp hơn tự khai thác (tỷ lệ tự khai thác/mua ngoài hiện là 30:70) trong giai đoạn chuyển tiếp ở khu khai thác phía Tây. Dù vậy, LNST của MSR đạt 2.148 tỷ đồng, so với 5 tỷ đồng cùng kỳ. Lợi nhuận từ công ty liên kết (chủ yếu Techcombank) đạt 1.435 tỷ đồng, +13,5% svck.
Như vậy, trong khi doanh thu vượt kỳ vọng gần như toàn diện, biên lợi nhuận của MML và MSR lại thấp hơn dự phóng, còn biên MCH giảm 0,65% so với cùng kỳ. Chất lượng lợi nhuận ở cấp độ từng mảng chưa đồng đều có thể là một điểm khiến thị trường chưa vội định giá lại cổ phiếu.
4. Yếu tố then chốt: lỗ tài chính ròng thu hẹp
Lỗ các hoạt động tài chính ròng là 1.073 tỷ đồng, giảm 19,1% svqt và 11,5% svck, thấp hơn 43% kỳ vọng và là nhân tố lớn nhất khiến LNST vượt dự phóng. Ba nguyên nhân:
• Lãi vay thấp hơn: lãi suất vay bình quân 8,3% (giảm 2,94% svck), trong đó khoản vay 750 triệu USD giảm lãi suất 1,70%. Chi phí lãi vay 1.415 tỷ đồng (-15,9% svck), dù nợ vay tăng 14,3% svck lên 69.656 tỷ đồng.
• Trích lập ít hơn: chỉ thêm 100 tỷ đồng dự phòng cho Trusting Social, thay vì 400 tỷ đồng như kỳ vọng.
• Thu nhập tiền gửi: bổ sung khoảng 2.000 tỷ đồng tiền gửi có kỳ hạn, đưa doanh thu tiền gửi và đầu tư lên 535 tỷ đồng (+34,2% svqt).
Phần vượt kỳ vọng đến từ yếu tố tài chính, ít bền vững
Cần lưu ý đây là các khoản tài chính và trích lập, không phản ánh sức mạnh bán hàng, và theo VDSC chính chúng là nhân tố lớn nhất khiến LNST vượt dự phóng. Phần lợi nhuận vượt kỳ vọng này vì vậy ít được thị trường coi là bền vững.
Gánh nặng nợ và các điểm treo vẫn còn
Nợ vay vẫn ở mức 69.656 tỷ đồng, chi phí lãi vay 1.415 tỷ đồng chỉ trong một quý và lỗ tài chính ròng vẫn hơn 1.000 tỷ đồng, nghĩa là phần lớn lợi nhuận hoạt động bị hấp thụ bởi chi phí vốn. VDSC nhận định nghĩa vụ mua lại cổ phiếu ở CrownX cần được công ty xác nhận hoàn thành để gỡ hẳn mối lo của nhà đầu tư; theo một tài liệu trên Vietstock, nghĩa vụ quyền chọn bán tại The CrownX khoảng 750 triệu USD đến hạn vào quý III/2027. Cổ tức tiền mặt cũng chưa được trả lại kể từ lần gần nhất năm 2022, nên việc chia cổ tức mới chỉ là kỳ vọng.

Hình 5. Kết quả năm: doanh thu và LNST (tỷ đồng). LNST tăng từ 1.870 (FY2023) lên 6.764 (FY2025); ROE từ 1,6% lên 12,5%.
5. Định giá
VDSC cho rằng MSN đang rẻ so với thị trường: P/E trượt 11,3x, P/E dự phóng 2026 có thể dưới 10,0x, trong khi thị trường Việt Nam ở mức 13–14x. Đà tăng lợi nhuận được kỳ vọng tăng tốc khi MSR và WCM bước vào pha bứt tốc vào năm 2027.

Hình 6. P/E: MSN so với thị trường (lần). P/E dự phóng 2026F lấy mức trần 10,0x ("dưới 10,0x").

Hình 7. Giá cổ phiếu hiện tại và vùng giá 52 tuần (đồng).
Báo cáo ghi nhận giá MSN ở mức 73.900 đồng, nằm giữa vùng 52 tuần, tức chưa phản ứng tương xứng với mức tăng lợi nhuận. Cần lưu ý chưa có số liệu đã kiểm chứng về diễn biến giá sau ngày 22/10, nên đây là cách đọc từ nội dung kết quả kinh doanh, không phải kết luận chắc chắn về tâm lý thị trường.
Có ba lý do khiến tâm lý nhà đầu tư cải thiện, theo VDSC. Thứ nhất, các công ty thành viên chuyển phần lớn lợi nhuận về công ty mẹ (MCH 80%, MSR 50%), hỗ trợ giảm nợ, hoàn tất các nghĩa vụ vốn và hướng tới trả cổ tức tiền mặt trở lại sau lần gần nhất năm 2022. Thứ hai, các khoản đầu tư kém hiệu quả như Trusting Social hay các thực thể ít hoạt động (Zenith Investment, Masan Blue) được trích lập toàn bộ hoặc hợp nhất để đơn giản hóa cấu trúc sở hữu. Thứ ba, mô hình tập đoàn tập trung vào tiêu dùng, sinh lời cao.
Nhận định rẻ và triển vọng cải thiện của VDSC không mâu thuẫn với phản ứng giá thận trọng: mức rẻ chỉ có thể được thị trường ghi nhận đầy đủ khi các điểm treo ở phần 4 được gỡ.
Tuy vậy, định giá rẻ thường đi kèm chiết khấu cho mô hình tập đoàn đa ngành và rủi ro nợ, nên có thể chưa đủ để tự kích hoạt dòng tiền. Cổ phiếu có thể cần một chất xúc tác rõ ràng như xác nhận hoàn tất nghĩa vụ CrownX, kế hoạch cổ tức, hoặc lợi nhuận cốt lõi bền vững hơn. Bối cảnh chung cũng có thể góp phần: bản tin chứng khoán ngày 26/10 ghi nhận VN-Index mất hơn 10 điểm trong phiên đầu tuần, và hai chỉ số FTSE Vietnam giảm mạnh trong quý III, với VIC và VHM chiếm tỷ trọng áp đảo.
6. Điểm cần theo dõi
Nghĩa vụ mua lại cổ phiếu ở CrownX cần được công ty xác nhận hoàn thành để loại bỏ hẳn mối lo của nhà đầu tư. Ngoài ra, lợi nhuận quý này được hỗ trợ lớn bởi giá tungsten ở vùng đỉnh và khoản lỗ tài chính thu hẹp; biên MSR đang chịu áp lực từ nguồn nguyên liệu mua ngoài, còn WCM có tăng trưởng cửa hàng cũ chậm lại và doanh thu mỗi cửa hàng giảm.
Nguồn: báo cáo "MSN – KQKD Q3-2026" của VDSC, ngày 22/10/2026. Tài liệu Vietstock và bài báo Mekong ASEAN. Bài viết chỉ mang tính tham khảo, không phải lời khuyên đầu tư.
Chủ đề giá cả đất , bất động sản bám rất chặt mọi ngác ngách của cuộc sống chúng ta . Thời gian tới giá cả mặt hàng này sẽ giảm hay tăng , điều gì sẽ tác động vô thị trường làm thay đổi giá cả ? Các điểm mới mang tính quyết liệt gồm nội dung nào ? Mảng bất động sản nào chịu tác động lớn theo các quyết sách và định hướng của chính phủ đây ? Các câu hỏi trên sẽ được làm rõ theo các phần cụ thể của bài viết .
Chính phủ đang đẩy nhanh gỡ vướng cho các dự án điện lớn bị chậm nhiều năm để bảo đảm đủ điện cho tăng trưởng. Điển hình là nhà máy LNG Công Thanh (Thanh Hóa, 1.500 MW, dự kiến vận hành 2031–2035), nơi Phó Thủ tướng yêu cầu rà soát trách nhiệm, hoàn thiện thủ tục và chứng minh năng lực tài chính của chủ đầu tư. Thủ tướng cũng yêu cầu đánh giá từng dự án để có phương án thay thế khi chậm, còn Luật Điện lực đang được sửa đổi để tháo gỡ điểm nghẽn về quy hoạch, đầu tư và huy động vốn. Các cuộc họp mới chỉ đặt ra hướng xử lý, nên tiến độ thực tế mới là thước đo.
Sáng 23/10/2026 (thứ Sáu tuần trước), Tập đoàn Lotte và Công ty Cổ phần Phát triển Bất động sản Phát Đạt (HOSE: PDR) tổ chức lễ khởi công tổ hợp Lotte Eco Smart City Thu Thiem tại phân khu chức năng 2A, Khu đô thị mới Thủ Thiêm, phường An Khánh, TP.HCM. Dự án có tổng vốn đầu tư 60.000 tỷ đồng (khoảng 2,32 tỷ USD), diện tích 7,45 ha, gồm 6 lô đất liền kề quy hoạch thành tổ hợp đa chức năng. Thế nhưng trong phiên giao dịch đầu tuần hôm nay (26/10), cổ phiếu PDR lại giảm 3,70% xuống 11.700 đồng/cp – mức thấp nhất trong phiên – với khối lượng khớp 6,65 triệu đơn vị, cao hơn mức trung bình 10 phiên (5,5 triệu). Vốn hóa thị trường của PDR hiện ở mức 12.073,5 tỷ đồng.
Giải ngân đầu tư công đến 08/10/2026 đạt 652.125 tỷ đồng (63,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao), tăng tốc rõ rệt trong quý III nhưng vẫn còn khoảng 320.000 tỷ đồng cần giải ngân trong quý IV để tiệm cận mục tiêu 95%, trong khi 27 bộ và 15 địa phương vẫn dưới bình quân. Lực đẩy mùa cao điểm cuối năm đến từ cơ chế chấm điểm giải ngân chính thức áp dụng từ tháng 10 và cụm đại dự án phía Nam – nổi bật là sân bay Long Thành khai thác thương mại từ 24/12/2026 – mở ra chu kỳ hưởng lợi cho nhóm xây lắp hạ tầng (VCG, HHV, C4G, CII) và vật liệu xây dựng (HPG, HT1, KSB, DHA).
Ngành cảng biển Việt Nam đang tăng trưởng mạnh nhưng còn mỏng về giá trị gia tăng. Sản lượng container đạt khoảng 34,4 triệu TEU năm 2025 và 18 triệu TEU trong 6 tháng đầu 2026 (+12%), được hỗ trợ bởi thương mại nội Á, dòng dịch chuyển sản xuất và tỷ trọng hàng trung chuyển tăng. Dù vậy, hàng hải chỉ đóng góp khoảng 1% GDP và chi phí logistics vẫn ở mức 16–18% GDP. Thị trường phân hóa rõ: cảng nước sâu như Lạch Huyện và Cái Mép kín hàng, được tăng giá khoảng 10% từ 1/2/2026, trong khi cảng sông Cấm vẫn dư công suất và cạnh tranh gay gắt. Rủi ro chính cần theo dõi gồm thuế Mục 301 của Mỹ (12,5% từ 24/7/2026), chính sách với hàng chuyển tải và các đợt công suất mới. Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, không phải khuyến nghị đầu tư.
